Cách Dùng Hoa Hồi Chữa Bệnh: Hoa Hồi có thể sắc lấy nước dùng hoặc tán thành bột mịn. Ngoài ra, có thể dùng ngâm rượu để xoa bóp điều trị đau nhức, bầm tím hoặc các chấn thương phần mềm khác. Dược liệu có thể dùng độc vị hoặc kết hợp với các vị thuốc khác đều được.
Liều lượng sử dụng khuyến cáo: 4 – 8 gram mỗi ngày với dạng thuốc sắc và 4 gram dưới dạng thuốc bột. Tuy nhiên, liều lượng sử dụng có thể thay đổi theo bài thuốc hoặc hướng dẫn của thầy thuốc chuyên môn.
Cây có tên khoa học là Illicium verum. Với nhiều tên gọi khác nhau như đại hồi, đại hồi hương, bát giác hồi hương, mác chác, hồi, hồi sao, tai vị…
Là loài cây nhỡ thân gỗ sống lâu năm, cây có chiều cao trung bình từ 6 – 10m. Thân cây thon, mọc thẳng, vỏ cây màu xám, xanh tốt quanh năm, có nhiều cành và cành dễ gãy. Lá mọc so le, đơn nguyên, phiến lá dày, cứng, giòn và nhẵn, thường tập trung mọc thành chùm ở đầu cành, vò nát sẽ có mùi thơm. Hoa hồi mọc đơn lẻ ở nách lá, hoa khá to, cánh hoa ở phía ngoài có màu trắng và mặt bên trong có màu hồng thắm.
Quả hồi kép gồm 6 – 8 cánh hoặc có khi lên đến 12 – 13 cánh, xếp thành hình ngôi sao hoặc hình bông hoa. Quả lúc còn non có màu lục và khi quả già sẽ chuyển sang màu nâu sẫm, mỗi đài dài 10 – 15mm có mũi nhọn ngắn ở đầu. Khi chín, ở đầu mỗi cánh sẽ nứt ra làm hai, để lộ hạt có màu nâu nhạt và nhẵn bóng. Ở cuống, lá, hoa và quả đều có chứa tinh dầu. Cây thường cho hoa vào tháng 3 – 5 và cho quả và tháng 6 – 9 hàng năm
Hàng năm đại hồi sẽ được thu hái vào 2 vụ vào tháng 7 – 8 và tháng 11 – 12. Ngoài hai vụ trên, còn một vụ vào tháng 3 hoa hồi hoa hồi sẽ rụng những quả lép.
Trong Y học cổ truyền ở nước ta cũng như tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… hoa hồi được dùng làm thuốc gây trung tiện, kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, giảm đau, giảm co bóp trong dạ dày, trong ruột, lợi sữa, chữa trị nôn mửa, đau, thấp khớp, đau lưng, ngộ độc thịt, cá và chữa trị khi bị rắn độc cắn, kích thích vị giác, điều hòa khí huyết, chống mỏi cơ và đặc biệt là chữa cúm rất hay…
Tây y coi tinh dầu hồi có tính kích thích, tăng cường nhu động ruột, dùng chữa đau bụng, tăng tiết dịch đường hô hấp, giúp tiêu hóa, giảm đau, khử đờm. Tinh dầu hồi có tác dụng kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của vi khuẩn lao và nhiều loại vi khuẩn khác, nên được dùng làm thuốc sát khuẩn, trị nấm ngoài da và ghẻ lở.
Những Cách Dùng Hoa Hồi Chữa Bệnh:
Điều trị hàn sán, vùng bụng và khu vực rốn quặn đau, dịch hoàn sưng
Dùng Bát giác hồi hương (sao với muối), Mộc hương, Xuyên luyện tử, Sa sâm, mỗi vị đều 40 g. Tán các loại dược liệu thành bột, gia thêm mật, làm thành viên hoàn, kích thước to bằng hạt ngô.
Mỗi ngày dùng uống 12 – 16 g với rượu nhạt hoặc nước sôi pha với muối loãng. Tình trạng bệnh nhẹ chỉ cần dùng uống 1 liều là khỏi, bệnh nghiêm trọng có thể uống thêm liều thứ hai.
Hỗ trợ cải thiện tình trạng tụt huyết áp, trụy mạch, choáng váng
Dùng Đại hồi, Gừng tươi, Gừng khô, Nhục quế, mỗi vị đều 4 g, sắc thành thuốc, dùng uống.
Cải thiện tình trạng hôi miệng
Sử dụng hoa Hồi tươi, nhai nuốt. Mỗi ngày một lần, mỗi lần vài cánh.
Điều trị đau răng, viêm lợi, sưng đau nướu
Dùng Bát giác hồi hương, Kê nội kim (màng mề gà) đốt tồn tính, mỗi vị đều 10 g, Phèn phi (dạng bột) 30 g. Tán cả 3 vị thuốc thành bột mịn, trộn đều, cho vào lọ, đậy kín, bảo quản để dùng dần.
Khi cần dùng, thoa bột vào chỗ răng sâu, viêm lợi, chảy máu.
Điều trị cổ trướng hoặc phù thũng mạn tính
Sử dụng Hồi hương 2 g và hạt Bìm bìm 8 g, tán thành bột mịn, trộn đều, chia thành 2 – 3 lần, dùng uống trong ngày. Mỗi ngày uống 2 – 3 lần, liên tục trong 3 – 4 ngày.
Điều trị tình trạng đi ngoài không thuận tiện
Dùng Hồi hương 4 – 8 g sắc thành thuốc, dùng uống mỗi ngày một thang.
Cải thiện tình trạng đau lưng
Dùng Đại hồi (bỏ phần hạt) tẩm với nước muối, sao khô, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 6 – 10 g uống với rượu nhạt.
Bên cạnh đó có thể dùng lá Ngải cứu hơ nóng, chườm vào phần lưng đau để hỗ trợ cải thiện tình trạng.
Điều trị tình trạng ăn uống khó tiêu, thường hay nôn mửa, đau nhức cơ thể
Sử dụng Đại hồi 4 – 8 g sắc thành thuốc, dùng uống mỗi ngày.
Chữa thấp khớp
Dùng Đại hồi, phân lượng vừa đủ nấu hoặc hãm với nước sôi, dùng uống như trà.
Trị sa ruột, đau bụng, sa tinh hoàn
Dùng Bát giác hồi hương, Lệ chi hạch (hạt vải) sao đen, mỗi vị phân lượng bằng nhau, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 8 g với rượu ấm.
Điều trị hàn thấp gây chứng ho bạch đới
Dùng Bát giác hồi hương 12 g, Can khương 8 g, sắc thành nước, sau đó pha với đường đỏ, dùng uống mỗi ngày một thang.
Những Lưu Ý Khi Dùng Hoa Hồi:
Khi dùng hoa hồi người dùng cần chú ý một số vấn đề bao gồm:
Không sử dụng dược liệu cho người mẫn cảm hoặc dị ứng với hoa hồi.
Không được lạm dụng, sử dụng đúng liều lượng và thời gian quy định. Dùng quá liều có thể dẫn đến các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, sung huyết phổi và não, tay chân run, thậm chí là co giật và động kinh.
Phụ nữ có thai không nên dùng. Phụ nữ cho con bú cần trao đổi với bác sĩ chuyên môn hoặc thầy thuốc y học cổ truyền để được tư vấn cụ thể.
Người hỏa vượng, âm hư, không được dùng.
Ngoài ra, cần chú ý phân biệt Bát giác hồi hương với một số vị thuốc khác cũng có tên Hồi. Bên cạnh đó, tránh sử dụng Đại hồi nhầm lẫn với quả Hồi có độc (tên khoa học là llicium religiosum Sieb. et Zucc).
Đại hồi là một loại gia vị, dược liệu được ứng dụng để điều trị nhiều bệnh lý cũng như hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng dược liệu cần tuân thủ theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên môn để tránh các rủi ro không mong muốn.
Phân Phối Hoa Hồi Nguyên Chất – Cam Kết Không Sử Dụng Chất Bảo Quản
Đại Hồi ( Hoa Hồi ) Giá: 360.000 Đ / Kg
Chính Sách Giao Hàng Của Vườn Thuốc Quý:Khách Hàng Tại Nội Thành Hà Nội:
Khách Hàng Tại Ngoại Thành Hà Nội:
Khách Hàng Tại Các Tỉnh Thành Khác:
|
Địa Chỉ Bán Hoa Hồi Nguyên Chất:Công Ty CP Siêu Thị Thảo Dược Phân Phối Hoa Hồi Nguyên Chất Uy Tín – Chất Lượng – Ship COD Toàn Quốc
|
Trên đây là những thông tin do Vườn Thuốc Quý tổng hợp, chắt lọc từ nhiều nguồn khác nhau. Với mong muốn mang đến cho bạn đọc những thông tin hữu ích về “Cách Dùng Hoa Hồi Chữa Bệnh”. |
Nguồn Bài Viết: Tổng Hợp Internet
Lưu ý:
|
➡ Mời Bạn Xem Thêm Một Số Sản Phẩm Khác: Bột Cam Thảo, Bột Nghệ Vàng, Chè Dung Vàng, Lá Khổ Sâm, Nụ Vối, Phan Tả Diệp, Táo Mèo, Tinh Bột Nghệ Vàng, Chè Dây.
Để lại một bình luận